Pages

Powered by Blogger.

Wednesday, 19 April 2017

Ngó lên Văn Miếu

Giữa lắm bộn bề lo toan, bao thách thức khó khăn đối mặt, những bậc tiền nhân có công đầu trong hành trình mở cõi về phương Nam là các vị chúa Nguyễn vẫn chăm chút và luôn tìm cách tôn vinh sự học. Nhờ thế mà bên cạnh một Văn Miếu - Quốc tử giám ở Hà Nội, Huế vẫn tự hào về những công trình Văn Miếu còn lưu lại dấu vết đến hôm nay.
Nói thế cũng là để hiểu rằng, đất Thần kinh không chỉ có một Văn Miếu. Lưu lại trong sách sử là Văn Miếu đầu tiên của xứ Đàng Trong được xây dựng bởi một vị minh chúa là Nguyễn Phúc Chu vào năm 1691 tại làng Triều Sơn (Hương Sơ, TP Huế) và sau đó là các Văn Miếu ở làng Lương Quán (Thuỷ Biều, TP Huế) và ở làng Long Hồ (xã Long Hồ, thị xã Hương Trà). Còn lại tương đối nguyên vẹn là Văn Miếu Huế xây dựng dưới thời vua Gia Long và tiếp tục được chỉnh tu vào thời các vị vua Nhà Nguyễn tiếp theo, được xem là Văn Miếu của triều đại Nguyễn và cũng là của Quốc gia.
Cầu mong chữ nghĩa hanh thông. Ảnh: Anh Túc
Đã nhiều lần tôi dạo bước, kính viếng Văn Miếu Huế, còn gọi là Văn Thánh là cách viết tắt của Văn Thánh Miếu, ngôi miếu thờ đức Khổng Tử, người được hậu thế tôn vinh là “Vạn Thế sử biểu”, có nghĩa là “Người thầy của muôn đời”. Nếu di tích có giá trị bậc nhất còn lưu lại hậu thế hôm nay của Văn Miếu - Quốc Tử Giám là 82 tấm bia tiến sĩ mà tấm bia được dựng sớm nhất cách nay đã hơn 500 năm và muộn nhất cũng ngót nghét 250 năm, thì Văn Miếu còn đó hai dãy nhà bia tương đối vẹn nguyên 32 tấm bia, khắc ghi 293 vị tiến sĩ thi đỗ trong 39 kỳ thi Hội, thi Đình tổ chức dưới triều Nguyễn. Khi còn nguyên vẹn, Văn Miếu Huế có gần 20 công trình lớn, như: Văn Miếu (điện thờ), Đông vu, Tây vu, Thần trù, Thần khố, Hữu Văn Đường, nhà Thổ Công, Đại Thành Môn, Văn Miếu Môn, quan Đức Môn, Linh Tinh Môn, la thành, bến vua ngự...
Cách nay hai năm, một anh bạn cũ thời còn là học sinh phổ thông của tôi là Nguyễn Văn Hiệp, người làng Bao La, xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, thành tài được phong hàm Giáo sư. Từ Hà Nội, bạn không quên đã gọi điện thoại và báo tin về buổi lễ tôn vinh được tổ chức ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Tôi cũng được biết, người Hà Nội rất tự hào về Văn Miếu trên đất thủ đô. Ngày nay, Văn Miếu - Quốc Tử Giám còn là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước, đồng thời cũng là nơi tổ chức khen tặng cho học sinh xuất sắc và hội thơ hằng năm vào rằm tháng giêng. Đặc biệt, đây là nơi các sĩ tử đến “cầu may” trước khi bước vào các kỳ thi lớn.
Không còn là thủ đô nhưng Huế vẫn còn đó vị thế của một vùng đất học và điểm đến khám phá của bao người. Tháng bảy về, nhìn những đoàn sĩ tử các nơi nườm nượp về Huế ứng thí, tôi bỗng nhớ về Văn Miếu Huế. Không xa là chùa Thiên Mụ với cảnh vào ra tấp nập mà ngôi đền tôn vinh kẻ sĩ và sự học thông tuệ này ở Huế vẫn vắng vẻ lạ. Còn nữa, khác với Văn Miếu - Quốc Tử Giám ở ngay trung tâm Thủ đô đông vui và vượng khí, vậy mà ngó lên trên ấy, đối mặt với dòng Hương là một Văn Miếu Huế, trầm mặc, u buồn và vắng vẻ, nằm ở một vùng ven đô thuộc phường Hương Long, TP Huế. Để rồi, đọng lại là một thoáng buồn và niềm buâng khâng khó tả khi nhớ lại câu ca một thuở: “Văn Thánh trồng thông, Võ Thánh trồng bàng/ Ngó vô Xã Tắc hai hàng mù u”.

Khám phá phong thủy kiến trúc kinh thành Huế

Việc chọn đất định đô xét về mặt phong thủy, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự ổn định và hưng thịnh cho cả triều đại và quốc gia. Kiến trúc kinh thành Huế chính là một trong những mẫu mực của việc áp dụng thuật phong thủy.
Tổng thể kinh thành Huế được đặt trong khung cảnh rộng, núi cao thế đẹp, minh đường lớn và có sông uốn khúc rộng.
Núi Ngự Bình cao hơn 100m, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, tọa lạc giữa vùng đồng bằng. Hai bên là cồn Hến và cồn Dã Viên ở vào thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ – là một thế đất lý tưởng theo tiêu chuẩn của phong thủy. Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành.
Toàn cảnh Đại Nội trong kinh thành Huế
Do quan niệm “Thánh nhân Nam diện nhi thính thiên hạ” (Thiên tử phải quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ) nhưng đồng thời phải tận dụng được thế đất đẹp nên kinh thành và các công trình trong đó được bố trí đối xứng qua trục dũng đạo, quay mặt hơi chếch về hướng Ðông – Nam một góc nhỏ nhưng vẫn giữ được tư tưởng chính của thuyết phong thủy. Ðây là cách sáng tạo và linh hoạt của người quy hoạch trong việc vận dụng thuyết phong thủy.
Mặt khác, để tạo phong thủy tốt, các nhà quy hoạch không chỉ xem hướng công trình mà cần xem xét ảnh hưởng của bố trí nội thất, các bộ phận và kế cấu trong công trình như chiều dài, rộng, cao, các cột, cửa… Ví dụ: Các bộ phận của Ngọ Môn đều dựa vào những con số theo nguyên tắc của dịch học như số 5, số 9, số 100.
Năm lối đi vào Ngọ Môn tựơng trưng cho Ngũ Hành, trong đó lối vua đi thuộc hành Thổ, màu vàng. Chính bộ mái của lầu Ngũ Phụng biểu hiện con số 5 và 9 trong hào Cửu Ngũ ở Kinh Dịch, ứng với mạng thiên tử.
Một trăm cột là tổng của các con số Hà Ðồ (55) và Lạc Thư (45)… Các con số này ta lại gặp ở sân Ðại Triều Nghi với 9 bậc cấp ở phần sân dưới và 5 bậc cấp ở phần sân trên.
Trên mỗi mái của điện Thái Hòa đều đựơc đắp nổi 9 con rồng trong các tư thế khác nhau và trong nội thất cũng tương tự (chín con rồng trong Long sinh cửu phẩm).
Về vị trí và phong thủy của kinh thành Huế, các sử quan triều Nguyễn đã nhận xét: “Kinh sư là nơi miền núi miền biển đều hợp về, đứng giữa miền Nam miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân ngăn chặn; sông lớn giữ phía trước, núi cao giữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thể vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua”.
 
Blogger Templates